RÂU RIA HERO VOL.1: ERNEST HEMINGWAY

But man is not made for defeat. A man can be destroyed but not defeated.

”Con người không sinh ra để dành cho thất bại. Con người có thể bị hủy diệt chứ không thể bị đánh bại.” – Sau khi đọc xong câu quote này, lượng testosterone trong cơ thể tui tăng thêm 5%.
Năm đó, tui đọc và học Ông già và Biển cả như một bổn phận, nhưng thẳm sâu, tui đã nhận ra dấu ấn rất khác của bài này, so với rất nhiều bổn phận khác của học trò cuối cấp. Chỉ cần nói được “Nguyên lý tảng băng trôi” là có điểm, nhưng không giáo án nào nói về phần bên dưới tảng băng đủ để thuyết phục tui. Để hiểu được dưới tảng băng đó, phải hiểu được con người đã xây nó lên. Tui đã mặc sức mà tìm hiểu về Hemingway theo một hướng đọc khác với sách Ngữ Văn 12, tui đọc về câu chuyện cuộc đời ông, những giai thoại hay những lời bình của người khác (thường cũng là những người cũng vĩ đại không kém) về Papa Hemingway, để rồi rốt cục, năm đó ôn thi lạc đề.
Nhưng không sao, cuộc ngoại khoá này đã mở khoá tui, cho tui một cái nhìn mạnh mẽ và hào sảng về hình mẫu người ông tui muốn trở thành. Và từ đó, câu quote ở đầu bài, với tui, “man” không chỉ đúng  khi dịch là “con người”, mà nếu dịch là “đàn ông” thì ngữ nghĩa của nó vẫn tuyệt đẹp. 

Chất đàn ông của Hemingway đến từ một chữ T, chính là cái cách mà bộ kĩ năng của ông được sắp xếp. Đầu tiên, ông quan tâm và nắm bắt thành thạo nhiều kỹ năng, một người đàn ông gần như có thể làm mọi thứ bằng tay. Đây là nét ngang. Thứ hai, ông sống kỉ luật và có một chuyên môn thâm sâu về viết lách, tạo nên một chiều dọc cho con người mình. Một người đàn ông hình chữ T sẽ là người “được việc”, cái gì cũng làm được, và đồng thời cũng đat đỉnh cao trong chuyên môn của họ.
Chữ T đã cho Hemingway một con đường để sống bạt ngàn, đủ mạnh để tìm tới những nơi gai góc nhất, tồn tại, chinh phục và cuối cùng là đúc kết và mang vào văn chương của mình.
Sau đây, tui sẽ kể cho mấy ông nghe về một huyền thoại.

MỘT NGƯỜI ĐÀN ÔNG “ĐƯỢC VIỆC”

“Ông ấy luôn toát ra nét tự hào về chất đàn ông của mình, trong kĩ năng viết, kĩ năng vận động thể chất, uống rượu, khả năng đánh cá, săn bắn, văn chương, về thu nhập, tính tự cường, khôn lanh, kiến thức y khoa và quân sự, kĩ năng đọc bản đồ, tìm đường và xác định địa hình.” —Carlos Baker, trong cuốn Ernest Hemingway: A Life Story.

Thuở sinh thời, nhiều người cho rằng sự cường đại tính nam của Hemingway là một loại trò diễn để ông dễ bán văn chương của mình, cũng giống như cách người hiện đại chúng ta đùa cợt về sự nam tính tuyệt đối của Tổng thống Nga Vladimir Putin qua những cái meme trên mạng. Họ cho rằng những hình ảnh được chụp lại của Papa là đều có sắp đặt sẵn, nhưng nếu ngồi xuống và so sánh về những hình ảnh của Hemingway cùng các phát ngôn của ông, tui tin người đàn ông này là thật, thật như đá sỏi.
Ông thể hiện rõ việc mình ghét những kẻ giả tạo, những người ông xem là vô dụng với thế giới, những kẻ luôn ăn mặc chỉnh tề ngồi vào các quán cafe dọc phố Paris, nhận mình là nghệ sĩ nhưng không tạo ra một thành phẩm nào.

Tôi không hiểu bọn họ nhưng họ cũng không có gì là bí ẩn, và khi tôi hiểu ra họ thì tôi cũng không thấy có ý nghĩa gì” – Ông viết trong cuốn A Moveable feast (Hội hè miên man).

Có nhiều điều Hemingway đã trải qua nhưng không hề được chụp ảnh lại, vì đơn giản là ở đó không có phóng viên, ông cảm thấy mệt mỏi với cánh phóng viên. Ông không viết hay lấy cảm hứng từ những thứ mình chưa từng trải qua mà sẽ bắt đầu học những kĩ năng mới, để dung nạp vào cuộc đời ông sau này. Cũng vì vậy mà dần dần, Hemingway sở hữu nhiều kĩ năng để sống và viết hơn bất kì tác gia nào cùng thời.

Kĩ năng outdoor siêu hạng

Đây chắc là loại kĩ năng ông có được từ khi vừa lọt lòng. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình ở ngoại ô Chicago, ông được cha mình, một bác sĩ, nuôi dạy để có thể tồn tại cả trong rừng và những con đường nhựa của thành phố. Ông được gửi vào một nhóm học ngoại khoá trong vùng từ khi mẫu giáo, nơi ông luôn đi cùng các anh lớn săn chim, bẫy thú và nhặt đá hầu như mọi buổi chiều, để rồi về nhà “nghiên cứu khoa học” những gì mình thu lượm được bằng chiếc kính hiển vi được ông nội tặng vào dịp sinh nhật 5 tuổi. Mẹ ông đã nói, từ khi là một đứa trẻ, Ernest là một nhà nghiên cứu tự nhiên thứ thiệt, có sự yêu quý đặc biệt tới sâu, bọ, đá, sỏi, chim chóc và hoa dại.

Không chỉ vậy, việc làm chủ một thiên nhiên lớn hơn cũng đã được truyền dạy cho Hemingway từ rất sớm. Hai tuổi rưỡi, cha đã dạy ông lý thuyết sử dụng súng, lên bốn, ông đã bắn được súng lục. Lần đi câu cá lớn đầu đời của bé Ernest là năm lên ba, hoạt động này lập tức trở thành một đam mê lớn của cậu bé, từ đó Hemingway dành rất nhiều thời gian đi câu, giăng lưới, chèo thuyền mà không hề than vãn gì. Câu cá và chinh phục dòng nước về sau đóng một vai trò rất lớn trong cuộc đời của Hemingway. 

Liên tục được cha ông trui rèn trong suốt thời gian lớn lên, ví dụ như về tài thiện xạ, ông chỉ được cho ba viên đạn trong cả một chuyến săn và được dạy là chỉ bóp cò khi ngon ăn nhất. Hoặc những bài học về nấu ăn trong rừng, khi ông được dạy làm thịt những con thú mình săn được, điều này rất có ý nghĩa với cha Hemingway vì ông coi đó là phần thưởng cuối cùng của một cuộc săn. Suy nghĩ ăn những thứ mình săn được, dù có lần đã cực đoan ép Ernest ăn hết cả một con nhím luộc (thịt nhím càng luộc sẽ càng cứng và có mùi), đã ăn vào phong cách đi săn của ông khi trưởng thành. Hemingway có thể đi săn nhiều tuần liền trong núi mà không mang theo lương thực sẵn, ông có thể ăn (và chế biến thành món ăn) tất cả các loại thú rừng, mặc dù nhiều khi việc chế biến chỉ mang tính hình thức. Như món bít tết gấu “medium rare” mà cả đoàn chỉ một mình ông dám ăn, hoặc một câu chuyện về lần ông săn được một con sư tử cái ở Châu Phi, Hemingway cắt luôn một phần thịt của con vật và ăn luôn cho giàu protein.

Một đức tính lớn mà ông có được nhờ cách nuôi dạy này của cha là: làm gì cũng phải làm một cách “đàng hoàng” (properly), đây cũng là từ yêu thích của hai cha con. Nghĩa là ông luôn tìm cách để am hiểu một cách thức, một hoạt động nào đó và tuân thủ các bước vận hành của nó như một nghi thức, vừa là để thành thạo chúng tốt nhất và cũng là để thể hiện một sự tôn trọng.

Hemingway coi đi săn như một môn thể thao, ông đi săn vì vui, vì lương thực và lắm lúc là vì sự sống còn. Có câu chuyện kể rằng khi tham gia cuộc nội chiến Tây Ban Nha với tư cách phóng viên, vì quân lương cạn kiệt, ông đã xách súng đi săn để mang lương thực về cho quân lính. Còn gì đàn ông bằng việc đi đến đâu cũng sống được, thậm chí nuôi sống những người xung quanh? 

Kĩ năng sống còn ngoài thiên nhiên của Hemingway đã cho ông một Nhân sinh quan rất “đàng hoàng”. Khi bắn, mục tiêu là giết chứ không phải làm cho bị thương. Khi viết, câu ngắn, ý gọn và đi vào lòng người. 

“All you have to write one true sentence. Write the truest sentence that you know” 

Lên nòng là không lòng vòng!

Am tường về quân sự

Mặc dù chưa bao giờ là quân nhân, Hemingway vẫn được trao Huân chương Bạc về Lòng quả cảm của quân đội Ý, Huân chương sao đồng của quân đội Mỹ, và luôn xông pha vào chiến trường với sự tự tin quật khởi làm nhiều người lầm tưởng ông đang giữ lon Tướng bốn sao.

Không thể tham gia Thế Chiến thứ nhất vì không đạt chuẩn (vì một vết thương ở mắt), Hemingway năm mười tám tuổi vẫn xung phong lái xe cứu thương trên chiến trường nước Ý. Trong một lần đang lái xe để vận chuyển bánh kẹo thuốc lá cho lính, xe ông bị dính mìn và bản thân ông bị 227 mảnh vụn bom ghim vào người. Nhưng khi thấy một quân nhân khác bị thương nặng hơn, ông đã vác anh này chạy bộ đến trạm xá, trên đường đi Hemingway nhận thêm hai vết đạn súng máy vào chân, nhưng nhiệm vụ cứu thương vẫn thành công mỹ mãn. Chính sự kiện này đã mang đến cho ông Huân chương Chiến công của Ý.
Dù chỉ hoạt động rất ngắn với danh nghĩa nhân viên cứu thương, ông vẫn kịp học nhiều kĩ năng y tế và chúng trở nên rất hữu dụng với cuộc đời ông sau này. Khi đang làm phóng viên đưa tin về Nội chiến Tây Ban Nha, một chiếc xe trong đoàn chở các cộng sự của ông bị tai nạn, Hemingway là người đầu tiên chạy đến sơ cứu cho những người trên xe. Một người vợ cũ của ông đã nói: “Ông ấy là người ai cũng  muốn thấy xuất hiện nhất khi có biến cố”.

Trong giai đoạn đầu của Thế Chiến thứ hai, ông được Đại sứ Mỹ tại Cuba liên hệ để hoạt động phản gián, ngăn các hoạt động tuyên truyền của phát xít ở đảo quốc này. Hemingway trở thành một trùm điệp viên với mạng lưới gián điệp dày đặc do chính ông tuyển lựa. Những “điệp viên nhân dân” này bao gồm cha xứ, bồi bàn, dân chài, và cả giới thượng lưu Tây Ban Nha sống lưu vong ở Cuba, họ sẽ mang tin về để Hemingway dịch sang tiếng Anh và báo cáo cho Toà Đại sứ.
Không lâu sau, ông nảy ra một ý tưởng: cho đóng một chiếc tàu đánh cá bí mật trang bị vũ trang, để tự mình tuần tra ven biển Cuba và săn tàu ngầm Đức, chiếc tàu Pilar lẫy lừng, đặt theo tên vợ cũ. Bằng một cách rất Hemingway, ông đã được sự đồng ý của sếp tình báo Hải quân Mỹ cung cấp tất cả vũ khí ông cần, được tự mình tuyển lựa 8 thuyền viên có kĩ năng chiến đấu và tạo thành một “đội đặc nhiệm không chính thống” hợp tác với Chính phủ Mỹ. Chưa có ghi nhận chiến công nào của đội tàu Pilar trong suốt cuộc chiến, dù vậy, đã có một câu chuyện rằng đội của ông từng phát hiện một tàu ngầm nhưng khoảng cách quá xa để giao chiến. 
Ông thường xuyên đánh bắt cá ở Key West, Floria và lâu lâu lại quần thảo ở Vùng Vịnh, ngoài khơi Cuba. Trong giai đoạn này, ông còn thực hiện nhiều nghiên cứu hải dương học cùng với Bảo tàng Smithsonian.

Những cuộc phiêu lưu trên tàu Pilar đã cho ông rất nhiều cảm hứng cho tác phẩm “Ông già và Biển cả”.

Sự thấu hiểu về tình đồng chí là một lí do giúp ông có thể hoà nhập với rất nhiều hàng ngũ quân đội rất nhanh. Ông hầu như được chấp nhận với tư cách quân nhân ngay lập tức khi vừa xuất hiện trên chiến trường. Những người lính luôn có sự ngưỡng mộ với ông, nhiều lúc lầm tưởng Hemingway là cấp trên của họ, trong khi các sĩ quan thì xem trọng ông như một nhà quân sự ngang tầm với họ. Góp mặt trên chiến trận như một nhà báo, nhưng ngoài bút chì và sổ sách, bên người ông luôn có súng máy hạng nhẹ và lựu đạn, mặc dù Hiệp ước Geneva cấm cánh phóng viên chiến tranh trang bị vũ khí khi đưa tin. 

Đại tá Buck Lanham, từng có thời gian đóng quân cùng Hemingway trong chiến dịch rừng Huertgen (Đức), sau này trở thành bạn thân thiết và cũng truyền cảm hứng cho nhiều nhân vật trong tiểu thuyết của Hemingway, kể lại“Tôi lấy làm bất ngờ với tốc độ nắm thông tin của Hemingway khi họp bàn về chiến lược, độ am hiểu về địa hình cũng như chiến trận của ông ấy sắc sảo như một năng khiếu. Những câu hỏi của Ernest luôn là câu hỏi thông minh”. Vị Đại tá còn cho rằng Hemingway là một chuyên gia quân sự thứ thiệt, “nhất là ở mảng chiến tranh du kích và thu thập tin tình báo”.

Một yếu tố khác khiến Hemingway phù hợp với chiến trận tới như vậy, dù nó không hẳn là một kĩ năng, chính là Lòng Dũng Cảm. Nhiều người lính phải phục ông vì sự bình thản của mình giữa làn bom đạn. Đại tá Lanham từng nói: “ông ấy chính là người dũng cảm nhất mà tôi từng biết”, khi kể về câu chuyện một lần ông cùng Hemingway và vài người nữa đang ăn tối trong một căn nhà bỏ hoang thì bất ngờ bị dội bom. “Chỉ trong tích tắc, tất cả lính của tôi đã rút vào tầng hầm của tòa nhà, tôi là người cuối cùng rút tới, khi quay lại nhìn, Ernest vẫn ngồi đó và chậm rãi cắt miếng thịt trên đĩa của mình. Tôi gào lên, nhưng ông ấy không đoái hoài. Tôi phải quay lại định kéo tên điên này vào hầm trú thì một loạt đạn nữa đã găm nát bức tường ngay cạnh bên hắn, nhưng Ernest vẫn ngồi đó, và ăn. Tôi ngồi xuống cái ghế cạnh bên và bắt đầu tranh cãi, chúng tôi tranh cãi trong suốt thời khắc sinh tử đó. Hemingway lại nói về cái lý thuyết yêu thích của mình, rằng trong làn đạn thì ở đâu cũng nguy hiểm và cũng an toàn như nhau, trừ khi bị một tên chĩa súng thẳng vào đầu.” 
Hemingway đã không chết trong trận đó.

Lòng dũng cảm của người đàn ông này không mù quáng, ông không bao giờ liều mình vì một động cơ ngu xuẩn. “Tôi chưa bao giờ thấy Ernest hành xử như một tên ngốc trên chiến trường, ông ấy hiểu chiến tranh và hiểu về nghĩa vụ của lính hơn bất kì anh lính nào. Ernest biết chính xác khi nào nên tiến, và khi nào nên chờ thêm vài phút nữa”.

Sau Thế chiến, Hemingway được trao tặng Huân chương Sao Đồng với vai trò phóng viên chiến trường xuất sắc của mình. Biểu chương đã viết: “bằng tài năng viết, Mr. Hemingway đã vẽ ra một hình ảnh chiến trường hiển hiện cho độc giả, cùng những đau thương và chiến công của những người lính tuyến đầu”. Sở dĩ Hemingway viết được như vậy, là vì ông cũng chính là một chiến binh tuyến đầu.

Năng lực thể chất hơn người

Hemingway là một người cao lớn, không chỉ là chiều cao cân nặng mà còn ở cái “khí” của mình. Cao trên 1m8 và nặng gần 100kg, ông mang thân hình một strongman tiêu chuẩn, vai ngang, thân mình vuông, ngực và hông rộng cùng hai cánh tay dài và lực lưỡng.

Hemingway ăn rất nhiều và cũng vận động rất nhiều. Ông tự đặt ra một nguyên tắc để nhận biết khi nào mình đang bủng beo: Nếu vác một cây súng trường và cảm thấy mệt, đó là khi ông sẽ tập thêm để giảm cân.

Niềm yêu thích vận động của Hemingway đến từ khi còn rất trẻ. Ông và cha tin rằng khi vận động tới vã mồ hôi thì cả cơ thể và tinh thần đều mới thực sự được thanh tẩy. Ông từng tham gia vào câu lạc bộ bơi và đội bóng bầu dục của trường, luôn sẵn sàng tham gia các giải đấu khi được gọi lên. Ông cũng rất hay có những chuyến đi rừng dài ngày, năm 15 tuổi, Hemingway từng cùng bạn trong một câu lạc bộ địa phương đi một chuyến xuyên rừng hơn 40km, và một tuần sau, ông lại tự đi một chuyến nữa hơn 30km. Càng lớn lên, ông càng ham thích bơi lội, đi bộ, đi rừng, và về sau còn thêm trượt tuyết cùng với tennis. Những khoảng thời gian dài đánh cá, vật lộn với những loại cá biển có khi nặng tới gần 200kg cũng giúp ông đốt kha khá calories. Với ông, câu cá cũng như là ra chiến trận.

Trên tất cả, Hemingway coi Boxing là môn thể thao đàn ông nhất của tất cả những môn thể thao. Điểm này, tui cũng nghĩ Không điều gì nam tính bằng hai người đàn ông giải quyết vấn đề của nhau bằng nắm đấm.

Trong giai đoạn ông sống và sáng tác ở Paris, ông kiếm thêm kha khá nhờ việc đánh tập cùng những boxer hạng nặng lúc bấy giờ. Ông cũng không ngại “mời” bạn bè đấu tập mỗi khi rảnh rỗi. Hemingway luôn chấp nhận những lời mời đấu, cả đeo găng và tay không. Khi sống ở Bahamas, ông đặt một kèo $250 cho tất cả tay đấm của đảo quốc này nếu hạ được ông trong 3 hiệp, và chưa hề có ghi nhận nào về việc ông đã phải xuống tiền cho khoản cược này.
Hemingway tin tưởng tuyệt đối rằng sức khỏe là món quà tuyệt vời nhất mà một người đàn ông có được khi sinh ra, chỉ khi khỏe mạnh thì đàn ông mới có thể làm được nhiều điều kì vĩ trên cuộc đời, cả về thể chất lẫn tinh thần.

“Để viết “tốt”, ông ấy sống bằng châm ngôn: yêu thương vợ, suy nghĩ chín chắn, đánh nhau khi cần thiết, và tận hưởng cuộc đời bằng đủ năm giác quan khi vẫn còn có thể yêu thương nó” – Carlos Baker, Ernest Hemingway: A Life Story

Đọc rất nhiều sách, Đi nhiều nơi, Hiểu biết rộng về Văn hóa, Lịch sử, Nghệ thuật

Hemingway có một sự am hiểu lớn với nhiều loại hình nghệ thuật. Ông có thể bình luận và dẫn chứng điểm khác nhau giữa tranh của Cézanne với các danh họa cùng thời, có thể thưởng rượu, và có thể kể cho bạn nghe về lịch sử của các di tích ở Ý hoặc Pháp, những nơi mà ông đi qua.
Ông là một con người hay xê dịch. Năm 24 tuổi, Hemingway đã có những chuyến đi xuyên lục địa già, khoảng 6 lần qua lại giữa Paris và Thụy Điển, 3 lần đến Ý, một chuyến leo núi dài ngày trên dải Black Forest của Đức, và một cuộc đi dọc sông Rhine. Nhiều năm sau, khi làm phóng viên chiến trường, ông lại đi rất nhiều để có mặt ở Châu Phi, Châu  Âu (rất nhiều lần) và nảy sinh tình yêu đặc biệt với đất nước Tây Ban Nha. Trong suốt đời mình, Hemingway từng sống gắn bó nhiều năm ở 3 nơi khác nhau không phải nhà mình là Paris, Key West (Mỹ) và Cuba. Cũng chính ở những nơi này, ông đã viết rất nhiều từ những cảm hứng có được trong cuộc sống của mình. Cảm hứng của ông phải tới từ những thứ có thật và “đời”, tới nỗi ông quyết định sẽ không viết về một địa danh, một câu chuyện nào nếu cảm thấy mình không gắn bó với nó đủ lâu. Với tư duy đó, ông đã có thể nói lưu loát tiếng Tây Ban Nha và giao tiếp tốt bằng tiếng Ý, Đức và Pháp.

Hemingway đọc rất nhiều! Khi nói về năng lực đọc của Hemingway, Carlos Baker đã ghi rằng: “Ở bất kì thời điểm nào, ông ấy cũng đang trong trạng thái theo dõi một quyển sách.” Có những lúc, Hemingway đọc cùng lúc 4 quyển sách (và con số này có khi lên đến 10 nếu những quyển sách cùng viết về một đề tài). Trung bình, ông ấy sẽ đọc xong 1 đến 2 quyển sách một ngày. Đối với gia đình Hemingway, việc đọc sách là một phần rất quan trọng cho các con họ. Bà Marceline Hemingway, chị ruột của ông từng kể lại: “Ernest và tôi đọc rất nhiều, sách của Dickens, Thackeray, Stevenson và Shakespeare chất kín các tủ sách trong thư viện gia đình, tôi không nghĩ chị em tôi bỏ sót quyển nào trong thư viện đó.”
Càng lớn, tình yêu sách của Hemingway càng sâu sắc hơn, vẫn giữ nhịp đọc sách mỗi ngày cho dù có phải di chuyển liên tục. Ông luôn có một vali riêng chỉ để sách cho mỗi chuyến đi. Đọc sách chưa bao giờ là lựa chọn thứ hai, đọc sách đối với ông nghiêng về phần trải nghiệm nhiều hơn là vì một mục tiêu học thuật cụ thể: “Sách là một phần của việc học nhìn, học nghe, học nghĩ, học cảm hoặc vô cảm, và học viết”  

MỘT NHÀ VĂN ĐẠT GIẢI NOBEL

Năm 1954, Ernest Hemingway được trao giải Nobel Văn Học nhờ tác phẩm “Ông già và biển cả”, đỉnh cao nhất của nghề viết.
Ông viết cũng mãnh liệt như khi sống, không kém phần sống còn, không kém gian khổ nhưng hoành tráng so với bất kì cuộc chiến hay cuộc phiêu lưu nào. Dù yêu văn chương, nhưng ông cũng đã từng coi nó là địa ngục.

“It takes all of you, it nearly kills you”

“(Việc viết) chiếm lấy cả con người anh, gần như giết chết anh”

“There is nothing to writing. All you do is sit down at a typewriter and bleed”

“Viết lách có là gì đâu. Anh chỉ cần ngồi bên máy đánh chữ và đổ máu”

Chữ và những câu chuyện luôn nằm trong con người ông, và việc trở thành một tác gia là điều Hemingway luôn mong muốn, cộng với bản tính alpha, ông luôn đẩy giới hạn của mình lên cao trong việc viết. Ông nghiêm túc xem nghiệp viết như một điều thiêng liêng và nhiều lúc, ông coi đó là một hành trình cô độc, như cách ông phát biểu khi nhận Nobel Văn Chương: 

“Vì viết là việc chỉ có thể làm một mình, và nếu anh muốn trở thành một nhà văn đủ giỏi, anh phải đối diện với nỗi cô đơn vĩnh hằng, mỗi ngày. Đối với một nhà văn thực thụ, mỗi quyển sách mà anh định viết sẽ phải là một sự khởi đầu mới, nơi anh thử những điều anh chưa từng làm, hoặc đã có nhiều người làm trước đó nhưng đều thất bại. Rồi sẽ có nhiều khi, nhờ may mắn, anh đạt thành tựu. Viết lách sẽ dễ dàng biết bao nếu nhà văn chỉ cần viết lại một điều gì đó đã được kể thật hay trước đó rồi, bằng một ngòi bút khác. Cũng bởi trong quá khứ đã có thật nhiều nhà văn giỏi, nên những kẻ hậu bối chúng ta bị đẩy đi đến những cực hạn nằm ngoài khả năng của mình, phải đi đến những nơi chẳng ai giúp được ta”

Hemingway đã không thể đạt được đỉnh cao của văn chương một cách dễ dàng, mà nó tuân theo đúng trình tự của cuộc đời ông: nỗ lực và bền bỉ.

Những năm trung học, ông viết cho tạp chí và báo của trường, sau đó bắt đầu viết chuyên nghiệp hơn khi bắt đầu làm phóng viên nghiệp dư của tờ Kansas City Star. Ông rong ruổi phố phường để săn tin, bắt đầu giao lưu nhiều hơn với cánh phóng viên để học các viết. Một chàng trai đôi mươi ôm giấc mộng Paris, ông sống tinh giản và dành nhiều năng lượng cho việc viết. Ông gửi bài đi tới nhiều nhà xuất bản và cũng nhận về không ít lời từ chối, mà về sau khi nhớ lại, ông đã viết:

“Mỗi ngày, số bản thảo bị trả về cứ tuồn qua khe cửa căn hộ giản tiện của tôi ở Montmartre. Chúng nằm đó vương vãi trên nền nhà gỗ, đính kèm là một mảnh giấy tang thương nhất đối với một nhà văn – lá thư từ chối từ nhà xuất bản. Không dễ để nuốt trôi những lời được viết trong thư, nhất là với chiếc bụng đói meo. Có lần tôi đã đọc một lá thư kiểu như vậy, đính kèm với bản thảo của một trong những truyện ngắn mà tôi đổ hết tâm huyết của mình vào, và khóc như một đứa trẻ.”

Nhưng tới khi thành công đến, Hemingway vẫn giữ nguyên thái độ và cung cách viết lách, không ngồi chờ mà chủ động tìm kiếm cảm hứng theo cách của mình. 
Nhiều người đã nhìn nhận Hemingway như một kẻ ăn chơi vì cái cách mà ông tận hưởng khoảng thời gian nghỉ ngơi của mình, ông tiệc tùng thâu đêm với rượu mạnh, với cái hào sảng hơi bất cần. Nhưng khi làm việc, ông là một người cực kì kỉ luật. Ông thường thức dậy lúc năm giờ rưỡi sáng và bắt đầu làm việc ngay. 

“Tôi thích làm việc từ sớm, trước khi tôi bắt đầu bị sao nhãng bởi những người hoặc những điều gì đó khác. Tôi đã ngắm tất cả mọi bình minh trong cuộc đời mình. Tôi sẽ thức dậy khi nắng vừa lên, bắt đầu đọc và chỉnh sửa những gì tôi đã viết, bằng cách này, tôi có thể đọc quyển sách mình đang viết hàng trăm lần. Sau đó, không chần chừ, tôi bắt đầu viết tiếp, hoặc xé đi viết lại, bởi vì tôi chỉ ngừng viết ngày hôm trước khi đã biết chắc tình tiết gì sẽ xảy ra khi tôi viết ngày hôm nay. Nhờ vậy, tôi không cần phải bắt đầu ngày làm việc của mình bằng một sự trầm tư.”

Thái độ của ông về việc chỉnh sửa tác phẩm khi sáng tác là hết sức nghiêm túc, vì ông cho nó là một bước khó, cần có tính bền bỉ cao mới có thể làm tốt được. Khi viết, ông luôn mài dũa câu chuyện và ngôn từ của mình để nó trở nên sắc lẹm như “thanh kiếm estoque của những hiệp sĩ đấu bò”, cũng chính là châm ngôn viết của ông. Từng có lần, con trai ông gửi đến ông một mẩu chuyện và nhờ Hemingway hiệu chỉnh. Ông cẩn thận chỉnh sửa chỉ một từ trong bản thảo đó, bởi vì “chỉ cần một từ đúng, đã là rất nhiều rồi”.

Khi bắt đầu viết một câu mới, Hemingway thường sẽ viết thật kĩ từng chữ vào chừa một khoảng trống đủ cho khoảng ba chữ. Điều này giúp ông có thể suy nghĩ chậm lại và có thể lựa chọn từ đắt hơn nếu sau đó ông nghĩ ra. Ông tập trung cao độ, và luôn luôn dò xét chính mình để chắc chắn đã viết ra “một câu thực sự” (one true sentence), loại bỏ hết những thứ sai lệch hay giả tạo trong văn chương mình. Sau đó mới viết thêm câu nữa.

Mỗi ngày, ông đặt mục tiêu viết được từ 600 đến 1000 từ, sau khoảng 6 đến 7 tiếng đồng hồ tập trung cao độ, ông nghỉ ngơi vào khoảng giờ trưa, thư giãn bằng cách duy nhất mà tâm trí “trống rỗng” lúc đó của ông có thể làm: uống rượu. Đến chiều, ông sẽ đi câu hoặc gặp gỡ bạn bè, gia đình. Sau khi ăn tối, ông bắt đầu lại thu mình vào bên trong vì lúc này tâm trí ông đã được sạc đẩy đủ và có thể tiếp tục giải quyết những vấn đề ông bỏ dở khi sáng. Ông quay lại bàn viết, và làm việc tiếp đến khi ngủ, thường cũng sớm.
Bằng cách sống như vậy mỗi ngày, ông luôn ý thức được mọi người, mọi điều quanh mình, thậm chí biết trước được những cuộc hội thoại sẽ diễn ra vào ngày mai. Hôm sau, mọi thứ lặp lại. Ông hiểu rằng chỉ có sự bền bỉ mới đưa mình đến được điều siêu việt. “Anh phải làm việc mỗi ngày, cho dù ngày hôm trước có chuyện gì xảy ra, thì hôm nay anh vẫn phải thức dậy và gánh vác”

 

KẾT

Và đó là Ernest Hemingway, người đàn ông của mọi điều và một điều, hình ảnh của một chữ T hoàn thiện. Sau đây là những kĩ năng mà người đàn ông này có được xuyên suốt cuộc đời mình:

  1. Lắng nghe tập trung
  2. Kể chuyện, nói chuyện
  3. Câu cá (từ nhỏ tới rất lớn)
  4. Săn bắn
  5. Đấu bò tót
  6. Vắt sữa bò
  7. Soi ngựa đua (và ăn tiền nhờ nó)
  8. Cưỡi ngựa
  9. Nấu ăn và dựng nhà dã chiến
  10. Sơ cứu chiến trường
  11. Đọc bản đồ
  12. Định hướng
  13. Kiến thức sâu rộng về lịch sử, văn hoá, thực vật, động vật, mỹ thuật, rượu vang.
  14. Nói được nhiều thứ tiếng (Anh, Tây Ban Nha, Pháp, một ít Ý và Đức)
  15. Trượt tuyết
  16. Tennis
  17. Bơi lội
  18. Đi bô băng rừng
  19. Boxing
  20. Quản lý nhân sự
  21. Lòng dũng cảm
  22. Thu thập tin tình báo

Và kĩ năng đưa Hemingway đến đỉnh cao: viết.

Để sống được như Hemingway, tui thấy không cần phải cho lời khuyên nữa, vì nếu tui viết ra, mấy ông cũng sẽ thấy nó quá quen, thường những điều đúng đắn sẽ được nhắc đi nhắc lại rất nhiều xuyên suốt cuộc đời chúng ta, sự quen thuộc này cùng với cái vô minh của kẻ tự cao sẽ khiến ta không màng tới nó. Chúng ta sẽ dành rất nhiều thời gian để tìm cái gì ít quen hơn, và cũng vì vô minh mà lựa chọn nó khi chưa xem xét nó có đúng hay không, mắc lỗi logic chỉ vì nó mới hơn, nên nó tốt hơn.
Nên tui chọn những quote này, cho chính tui, để có thể sau này khi tui đã đủ từng trải, sẽ đọc những câu từ này nhưng trong đầu lại chơi theo một giai điệu khác:

NEVER CONFUSE MOVEMENT WITH ACTION
Dám nghĩ dám làm

ALL YOU HAVE TO DO IS WRITE ONE TRUE SENTENCE
Khẳng khái, không lòng vòng. 

I’VE SEEN EVERY SUNRISE OF MY LIFE
Dậy sớm.

THE FIRST DRAFT OF ANYTHING IS SHIT
Không dễ bằng lòng với bản thân. 

WHEN PEOPLE TALK, LISTEN COMPLETELY.
Lắng nghe.

Ai cũng có thể sống tốt nếu không lười biếng.

Leave a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *